PDA

View Full Version : ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CHUẨN KTKN CÁC MÔN HỌC VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC



bqduykontum
07-01-11, 13:21 PM
BÁO CÁO


ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG CÁC MÔN HỌC VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC






Kính gửi: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum.


.
Căn cứ công văn số: 624/BGDĐT-GDTH ngày 5 tháng 02 năm 2009 Về việc hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học ở Tiểu học. Phòng Giáo dục và Đào tạo KonPlông tiến hành tổ chức triển khai cho các đơn vị trường có bậc tiểu học tham gia Hội thảo cấp huyện. Hội thảo đã nghiên cứu, trao đổi và phản ảnh các nội dung của chuyên đề giáo dục tiểu học về việc đánh giá thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học và đổi mới PPDH ở tiểu học. Sau Hội thảo Phòng Giáo dục và Đào tạo KonPLông tiền hành báo cáo việc triển khai đánh giá thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học và đổi mới PPDH ở Tiểu học gồm các nội dung cụ thể như sau:
1. Việc thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học:
a) Tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học theo công văn số 624/BGDĐT-GDTH ngày 05/02/2009 về việc hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn ở tiểu học.
- Công tác chỉ đạo, tập hấn, bồi dưỡng cán bộ quản lí, giáo viên tại các đơn vị trường; những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai dạy học theo Chẩn kiến thức, kĩ năng các môn ở tiểu học.
Ngay từ đầu năm học Phòng Giáo dục và Đào tạo tiến hành chỉ đạo các đơn vị trường bám sát nội dung chương trình và sách giáo khoa. Đồng thời dựa vào hướng dẫn theo chuẩn kiến thức, kĩ năng chương trình của từng môn học. Từ đó hướng dẫn giáo viên cách thiết kế bài học phù hợp vùng miền nhưng vẫn đảm bảo theo nội dung chương trình theo chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học.
Thông qua các đợt bồi dưỡng, hội thảo chuyên đề về nâng cao chất lượng dạy học ở các môn học cho học sinh DTTS Phòng Giáo dục và Đào tạo tiến hành chỉ đạo, bồi dưỡng giáo viên lồng ghép nội dung dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng qua từng môn học của từng lớp học một cách cụ thể. Từ đó giúp giáo viên các trường nắm bắt nội dung theo chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học kịp thời và biết cách điều chỉnh nội dung bài học, bám sát mục tiêu từng tiết dạy, giúp học sinh hiểu bài, tiếp thu bài tốt hơn. Tất cả các CBQL và GV ở các đơn vị trường đều được tham gia tập huấn và nắm vững được nội dung, mục tiêu của chuẩn.
Trong quá trình triển khai chỉ đạo, hướng dẫn, bồi dưỡng cho giáo viên dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng có những thuận lợi như trên. Bên cạnh đó trong quá trình triển khai vẫn còn gặp không ít những khó khăn như sau:
Công tác chỉ đạo, bồi dưỡng giáo viên ở cá đơn vị trường còn chưa cụ thể, không kịp thời và chưa đáp ứng được nhu cầu cần thiết để giáo viên có đủ kiến thức khi áp dụng.
Công tác chỉ đạo về việc thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học tại các đơn vị trường đã được đề cập. Tuy nhiên việc tập huấn bồi dưỡng cho giáo viên để áp dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng tại một số đơn vị trường chưa được chú trọng.
Đội ngũ giáo viên của huyện đa số là giáo viên mới vào nghề, nên việc áp dụng thực hiện chuẩn kiến thức chưa kịp thời, còn gặp nhiều lúng túng.
- Đánh giá sự phù hợp của Chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng môn học đối với khả năng, điều kiện học tập, phát triển của học sinh; đánh giá hoạt động dạy học theo Chuẩn kiến thức kĩ năng của giáo viên (phù hợp Chuẩn, cao hơn hoặc thấp hơn chuẩn).
Nội dung yêu cầu cần đạt về kiến thức kĩ năng đối với từng bài học được hiểu là chuẩn (là cơ bản, là tối thiểu) đòi hỏi tất cả mọi học sinh đều phải đạt được. Thực hiện theo chuẩn kiến thức kĩ năng ở tiểu học theo ý kiến của một số đơn vị trường trong hội thảo cho rằng: cấu trúc của các bài học cũng như yêu cầu cần đạt ở các bài tương đối đồng nhất và phù hợp. Tuy nhiên riêng đôí với học sinh yếu, học sinh vùng sâu, vùng xa việc thực hiện theo chuẩn còn gặp rất nhiều khó khăn, một số đối tượng học sinh lớp 2, 3 hiện nay đọc vẫn còn đánh vần, viết chưa thạo. chính vì vậy việc yêu cầu học sinh đọc viết theo tốc độ mà chuẩn đưa ra còn cao, mà theo quy định của chuẩn đó là mức độ cần đạt tối thiểu phải đạt được, trông khi đó lại không có chuẩn riêng cho đối tượng học sinh yếu, khả năng nhận thức của các em rất hạn chế chênh lệch nhiều về trình độ nhận thức.
* VD: Yêu cầu về mức độ đọc của học sinh lớp 1 đến cuối học kì I là: 20 tiếng/phút. Tuy nhiên theo đánh giá một số đơn vị trường thì ở yêu cầu này hơi cao so với khả năng thực tế của học sinh.
Trong cấu trúc bài học tiếng việt cần đạt về kĩ năng:
+ Nghe: Nghe hiểu một câu chuyện ngắn, mặc dù có nội dung phù hợp với học sinh nhưng vốn tiếng việt của học sinh rất hạn chế, giáo viên còn phải giải thích nội dung của câu chuyện bằng tiếng mẹ đẻ của học sinh. Nhưng đối với giáo viên mới chưa nói được tiếng địa phương nơi công tác thì việc này không thể thực hiện được.+Nói: Yêu cầu học sinh kể lại một câu chuyện đã được nghe thì các em rất khó thực hiện lại được.
+ Đọc: Khi đọc câu học sinh không hiểu được hết ý nghĩa trong câu đã đọc. Đặc biệt là những câu có ý nghĩa, nội dung xa lạ với học sinh. Khi đọc chịu ảnh hưởng nhiều của tiếng địa phương.
+ Viết: Đối với các em thì khi thực hiện viết gặp rất nhiều khó khăn đa số các em còn viết rất chậm sự nhận biết của các em chậm nên việc viết chữ đúng và chuẩn rất khó.
- Trong mục tiêu của chuẩn phân ra các mức độ đạt được về kiến thức kĩ năng đối với học sinh trong lớp 1 có nhiều trình độ, phần ghi chú làm rõ mức độ cần đọc được và phạm vi mở rộng, phát triển đối với học sinh khá giỏi.
Về cấu trúc bài học tương đối đồng nhất và yêu câu cần đạt được phải dựa vào đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể để phân ra từng giai đoạn phù hợp.
Chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học được soạn theo kế hoạch dạy học đúng quy định và dựa theo các bài SGK (hoặc sách giáo viên đối với các môn học không có SGK). Ngoài cấu trúc chung thống nhất ở tất cả các môn học theo mục riêng thể hiện tính đặc thù của môn học đó.
Yêu cầu về nội dung trong chuẩn kiến thức, kĩ năng có cấu trúc đồng tâm tạo cơ sở cho học sinh có kiến thức cơ bản để học lên lớp trên.
Dựa vào yêu câu cần đạt được của chuẩn giáo viên có thể xác định mục tiêu của từng môn học và phân loại được trình độ học sinh trong lớp.
Chuẩn kiến thức kĩ năng được coi là cơ sở cho công tác quản lí và chỉ đạo việc dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh ở từng lớp.
* Đánh giá hoạt động dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của giáo viên:
Theo ý kiến của một số đơn vị trường:
- Kế hoạch bài dạy: Đa số giáo viên chưa phân loại được mức độ cần đạt được của học sinh thể hiện qua phần mục tiêu bài học.
- Trong quá trình lên lớp giáo viên vận dụng chưa linh hoạt các phương pháp theo hướng đổi mới, thiếu sự đa dạng về hình thức tổ chức dạy học dẫn đến yêu cầu về chuẩn đạt được còn hạn chế.
- Đa số đội ngũ giáo viên mới vào nghề chưa được tập huấn bồi dưỡng về kiến thức, kĩ năng vào quá trình dạy học.
Nói chung việc áp dụng chuẩn kiến thức kĩ năng của giáo viên vào quá trình dạy học vẫn còn thấp.
b) Triển khai dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở bậc tiểu học theo công văn số 7975/BGDĐT-GDTH ngày 19/9/2009 về việc hướng dẫn dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở tiểu học:
- Điều chỉnh nội dung dạy học: nêu rõ nội dung, lí do điều chỉnh của từng lớp; hiệu quả của việc điều chỉnh.
Chuẩn KTKN môn Thủ công, Kĩ thuật đã được quy định tại Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo).
Trong quá trình triển khai thực hiện chương trình và SGK, Bộ Giáo dục và đào tạo đã có Công văn số 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 13 tháng 2 năm 2006 về hướng dẫn việc dạy học cho học sinh tiểu học; công văn số 9832/BGDĐT-GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006 về Hướng dẫn thực hiện chương trình các môn học lớp 1, 2, 3, 4, 5.
Triển khai dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở bậc tiểu học theo công văn số 7975/BGDĐT-GDTH ngày 19/9/2009 về việc hướng dẫn dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở tiểu học.
Chuẩn kiến thức kĩ năng là tài liệu, phân phối chương trình dùng chung cho cả nước chứ không dành riêng cho địa phương nào, trong hội thảo một số ý kiến cho rằng: có một số bài có nội dung không phù hợp đối với học sinh người dân tộc Kadong ở địa phương này như: Các bài xé dán, gấp hình ở lớp 1, 2; học cắt, khâu, thêu ở lớp 4, 5.
Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn hội thảo đã tiến hành thảo luận và mạnh dạn đưa ra một số nội dung mà theoohoij thảo là phù hợp hơn đối với đặc điểm của học sinh và tình hình thực tiễn của địa phương như sau:
*Điều chỉnh nội dung dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật ở các lớp :
- Đối với khối 1: có thể thay thế thứ tự cá chủ đề: Gấp hình - cắt, dán giấy – Xé dán giấy
- Đối với khối 3: Bài “Gấp tàu thuỷ” chưa phù hợp với HSDTTS. Có thể thay bằng nội dung gấp chong chóng. Đây là nội dung mang tính dân gian, phản ánh thực tiễn mà các em chơi thường ngày.
- Đối với khối 4:
Trong phân phối chương trình và Chuẩn kiến thức kĩ năng lớp 4 có tới 8 bài cắt, khâu, thêu với 18 tiết. Nói tóm lại các bài có nội dung cắt, khâu, thêu đã chiếm hết thời gian của học kì I. Nhưng những gì học sinh tiếp thu được lại không phù hợp với thực tiễn của địa phương, học sinh không áp dụng vào thực tế. Thực tế ở địa phương này là hầu như gia đình nào cũng đan lát các sản phẩm như: Gùi, teo, nông… kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác còn kiến thức học sinh thu lượm được các bài học về đan lát là không nhiều, hơn nữa là học sinh ở các lớp dưới các em còn nhỏ tay còn yếu nên thực hành chưa nhiều dẫn đến học sinh đã quên. Dù các bài học có nội dung về đan lát đã được học ở các lớp dưới nhưng với thực trạng trên hội thảo đã đi đến thống nhất là nên thay các bài học có nội dung căt, khâu, thêu bằng các bài học có nội dung về đan lát để phù hợp hơn so với học sinh ở đây, các nội dung về đan lát có thể cao hơn so với các lớp dưới.
Đối với khối 5:
Chương trình thực dạy là 35 tiết trong đó có một số bài theo chúng tôi để áp dụng cho mọi vùng miền chưa phù hợp. Do vậy cần điều chỉnh nội dung một số bài như sau:
- Thêu dấu nhân (lớp 5)
- Cắt, khâu, thêu tự chọn lớp 5
- Lắp mô hình tự chọn
Lý do điều chỉnh.
- Vốn Tiếng Việt của học sinh còn yếu nên khi giáo viên truyền đạt lý thuyết về các môn học học sinh không nắm được.
- Khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế nên khi giáo viên thao tác các mẫu trên học sinh không nắm được.
- Đồ dùng dạy học cho các môn học này chưa đủ đảm bảo cho mỗi học sinh mỗi bộ.
- Học sinh ít được tiếp xúc với thực tế các mô hình trực quan
- Điều kiện sử dụng trình chiếu các băng đĩa mẫu cho học sinh xem còn hạn chế (phòng chiếu, trang thiết bị chưa đầy đủ)
Phương pháp điều chỉnh
- Môn kĩ thuật yêu cầu thực hành nhiều nhưng đồ dùng không đủ dẫn đến không đánh giá được sản phẩm của học sinh. Nên cần giảm một số tiết thực hành như sau:
+ Bài thêu dấu nhân. 2 tiết giảm xuống 1 tiết, tăng bài đính khuy hai lỗ lên 3 tiết
+ Bài cắt khâu thêu tự chọn (3 tiết) thay bằng nội dung đan lát tự chọn. Lý do khi thực hiện nội dung bài đan lát học sinh có thể tự chuẩn bị đồ dùng hoặc chuẩn bị theo nhóm qua đó học sinh có ý thức thi đua để có sản phẩm đẹp.
+ Bài lắp ráp mô hình tự chọn (3 tiết) thuộc dạng bài thực hành do vậy học sinh không tự chọn được mô hình. Nên có thể thay nội dung bài nay bằng bài làm một số đồ dùng phục vụ trong cuộc sống như: Làm chổi bằng tre, nứa, đót … vì những nguyên vật liệu này gần gũi với các em.
Hiệu quả của việc điều chỉnh:
- Học sinh hoạt động tích cực hơn trong tiết học.
- Học sinh dễ chuẩn bị đồ dùng hơn.
- Vận dụng được sản phẩm làm ra vào trong sinh hoạt hàng ngày.
c) Thực hiện đánh giá, xếp loại học sinh tiểu học theo Thông tư số 32/2009/BGDĐT-GDTH ngày 27/10/2010:
- Qua đánh giá xếp loại học sinh theo thông tư này đã khuyến khích học sinh hoc tập chuyên cần, phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo, khả năng tự học của học sinh, xây dựng niềm tin, rèn luyện đạo đức.
- Đánh giá xếp loại đạt kết quả đạt được và khả năng phát triển từng mặt của học sinh, coi trọng việc dộng viên khuyến khích sự tiến bộ của học sinh, không tạo áp lực cho học sinh.
- Trong quá trình thực hiện thông tư này còn gặp nhiều bất cập như:
- Chưa đánh giá được kết quả học tập thường xuyên của học sinh.
- Đánh giá chưa đúng thực sự khả năng của từng học sinh.
* Ví dụ: Ở một số lớp tỉ lệ học sinh yếu đầu năm khá cao nhưng đến khi đánh giá học sinh lên lớp chỉ dựa vào điểm kiểm tra cuối học kì II, nên dẫn đến tỉ học sinh khá giỏi cao. Nhưng thực tế khả năng lực thực sự của học sinh chưa đạt đến mức độ đó.Vì vậy theo hội thảo nên đánh giá xếp loại học sinh cuối năm và xét lên lớp như sau:
Điểm Trung bình cả năm: = (Điểm kiểm tra cuối học kì I + Điểm kiểm tra cuối kì II): 2 (làm tròn 0, 5 thành 1). Sau đó tiến hành xét để học sinh lên lớp, học sinh khen thưởng dựa vào Điểm Trung bình cả năm và theo hướng dẫn của Thông tư 32.
d) Triển khai hoạt động cam kết, bàn giao chất lượng học sinh theo công văn số 7312/BGD-ĐTH ngày 21//2009 và công văn số 4919/BGDĐT-GDTH ngày 17/8/2010 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2009-2010, 2010-2011:
- Căn cứ nhiệm vụ năm học và các văn bản hướng dẫn thực hiện hoạt động cam kết, bàn giao chất lượng học sinh. Ngay từ đầu năm học Phòng Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các đơn vị trường hướng dẫn giáo viên tiến hành tổ chức ôn tập và khảo sát chất lượng đầu năm. Từ đó phân luồng đối tượng học sinh để lên kế hoạch dạy kèm, phụ đạo và bồi dưỡng cho phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh.
- Thông qua việc khảo sát chất lượng học sinh đầu năm chuyên môn nhà trường tiến hành bàn giao mức chất lượng học sinh về tổ, tổ tiến hành bàn giao về cho giáo viên theo từng môn học cụ thể có văn bản và danh sách kèm theo để lưu tại trường và nộp về Phòng Giáo dục để theo dõi, kiểm tra đôn đốc nhắc nhở nhà trường và giáo viên thực hiện nghiêm túc nội dung bàn giao.
- Thông qua văn bản hướng dẫn thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ năm học các đơn vị trường triển khai một cách công khai, cụ thể thông qua Đại hội CBCNVC đầu năm, thông qua các cuộc họp Hội đồng sư phạm của các đơn vị trường, chỉ đạo lồng ghép vào các buổi sinh hoạt chuyên môn và tiến hành cho giáo viên cam kết thi đua thực hiện nhiệm vụ trọng tâm trong năm học. Để từ đó giáo viên có sự hiểu biết sâu rộng và có trách nhiệm cao trong công tác.
2. Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học từ năm học 2007-2008 đến nay:
Đổi mới về công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện:
- Thực hiện tất các thông tư và các công văn hướng dẫn của cấp trên, từng bước thay đổi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh tạo điều kiện cho người học tính sáng tạo thẩm mỹ, khéo léo những bước cơ bản ban đầu về môn kĩ thuật.
Đổi mới công tác chỉ đạo tập huấn, bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học.
Phòng Giáo dục và Đào tạo cử giáo viên cốt cán tham gia đầy đủ các đợt tập huấn bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ sở GD tổ chức để tập huấn lại cho giáo viên các trường qua đó tiếp thu và vận dụng vào dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số và yêu cầu các đơn vị trường thường xuyên học hỏi nhau về phương pháp dạy học, hội thảo thống nhất phương pháp cách dạy theo hướng tích cực.
Đổi mới việc sử dụng tài liệu bồi dưỡng tiết bị dạy học về dổi mới phương pháp dạy học.
Chỉ đạo khai thác hết tài liệu sẵn có trong nhà trường, khuyến khích giáo viên dành thời gian làm đồ dùng tự tạo đê giúp cho lớp học thêm sinh động.
Đổi mới đánh giá về hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học, thuận lợi, khó khăn, kết quả.
Thuận lợi:
- Giúp giáo viên xác định đúng hướng trong quá trình tìm tòi và sáng tạo được các phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh trong dạy học.
- Giúp giáo viên biết thiết kế, xây dựng được kế hoạch bài học theo hướng tích cực hoá quá trình học tập và lấy học sinh làm trung tâm.
* Ví dụ: Làm sử dụng và khai thác được các thiết bị đồ dùng dạy học trong dạy học thủ công lớp 3. Để thực hiện được kế hoạch bài học thủ công lớp 3 có áp dụng các phương pháp dạy học tích cực phù hợp với đặc trưng môn học. Vì vậy để hình thành kĩ năng kĩ thuật dạy học thủ công, trước hết cần phải làm cho học sinh có được hình ảnh, biểu tượng chính xác về vật mẫu trên cơ sở giáo viên trình bày và tổ chức cho học sinh quan sát, nhận xét vật mẫu. Tiếp đến giáo viên cho học sinh biết cách thực hiện các thao tác làm sản phẩm thông qua việc hướng dẫn thao tác mẫu của giáo viên cuối cùng học sinh được vận dung những hiểu biết về đặc điểm hình dạng, kích thức của vật mẫu và các thao tác làm ra sản phẩm vào hoạt động luyện tập để hình thành kĩ năng.
Khó khăn:
- Đồ dùng dạy học ở các đơn vị trường còn thiếu, học sinh thao tác còn chậm, nhiều em chưa biết thao tác từ những hoạt đông đơn giản, ngôn ngữ bất đồng khi hướng dẫn cho học sinh, học sinh không hiểu câu lệnh của giáo viên đưa ra nên kết quả học sinh khó tiến bộ kể từ đầu năm so với cuối học kì I.

3. Kiến nghị, đề xuất:
Qua quá trình thực hiện kế hoạch năm học, nhiệm vụ năm học và triển khai các nội dung trên. Phòng Giáo dục và Đào tạo có những kiến nghị và đề xuất như sau:
- Tổ chức tập huấn, hội thảo cấp tỉnh cho giáo viên và cán bộ quản lí các chuyên đề trên.
- Bổ sung đồ dùng dạy học kịp thời để đảm bảo thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học...