PDA

View Full Version : Xuân Quỳnh- Thơ và đời



LeNgocLinh
23-03-09, 12:11 PM
"Chất thơ trữ tình của của Xuân Quỳnh đan quyện cái đắm đuối của cảm xúc trẻ trung vừa đồng thời là niềm lo âu hạnh phúc của người đã qua trải nghiệm, đem đến cho người đọc niềm cảm chân thành, sự lôi cuốn lãng mạn, nóng hổi tình đời, tình người."

Nhà thơ Xuân Quỳnh xuất thân trong một gia đình công chức nghèo, sớm mồ côi mẹ, ở với bà nội từ nhỏ cho đến khi trưởng thành. Tháng 2/1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào đoàn văn công Trung ương nhân dân. Là diễn viên múa xuất sắc, được đào tạo bài bản, đã nhiều lần, Xuân quỳnh được chọn đi biểu diễn ở nước ngoài và dự đại hội sinh viên thế giới năm 1959 tại Viên, Thủ đô nước Áo.

Sau khi có một số bài thơ xuất hiện trên các báo, Xuân Quỳnh được cử học trường Bồi dưỡng những người viết văn trẻ khoá I (1962 -1964) của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ sau năm 1964 đến trước năm 1978, Xuân Quỳnh làm biên tập viên tuần báo Văn nghệ và trở thành hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam vào năm 1967, Uỷ viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam Khoá III. Từ năm 1978 nhà thơ Xuân Quỳnh là cán bộ biên tập của Nhà xuất bản Tác phẩm mới.

Các tác phẩm đã xuất bản: Tơ tằm – Chồi biếc, Hoa dọc chiến hào (in chung) Gió lào - cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978) Sân ga chiều em đi (1984), Tự hát (1984), Bến tàu trong phố (tập truyện thơ thiếu nhi -1985) . Vào những năm đầu 80, Xuân Quỳnh viết nhiều tác phẩm văn học thiếu nhi: Mùa xuân trên cánh đồng (1981 truyện thiếu nhi), Bầu trời trong quả trứng, Cây trong phố – chờ trăng (thơ thiếu nhi, in chung-1982), Truyện Lưu – Nguyễn, Vẫn có ông trăng khác (truyện thiếu nhi -1986). Sau ngày mất, rất nhiều tác phẩm của Xuân Quỳnh được tái – xuất bản: thơ Hoa cỏ may (1989), Thơ Xuân Quỳnh 1992, Thơ tình Xuân quỳnh – Lưu Quang Vũ (1994), Tuyển tập truyện thiếu nhi (1995)...

Các tác phẩm được giải thưởng: Hoa cỏ may - giải thưởng về thơ của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1990, Bầu trời trong quả trứng - giải thưởng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1982-1983.

Năm 2001 nhà thơ Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Gió lào cát trăng (1974), Hoa cỏ may (1989), Tự hát (1984).

Suy nghĩ về nghề văn, Xuân Quỳnh bộc bạch: “Vì thích thú nên làm văn học và cảm thấy như mình được sống thêm một cuộc đời khác nữa. Khi mới vào nghề bị xô đẩy, khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống tức là phải viết. Nói được niềm vui nỗi khổ của chính mình, tôi cảm thấy có cái sung sướng không mấy ai có! Như người khác không yêu, mà mình được yêu. Như người khác chỉ biết im lặng mà mình biết nói, và nói lên được thành tiếng”.

Sóng, Thuyền và biển là những bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh. Tuy không sinh ra và lớn lên từ quê biển, nhưng cảm xúc về “biển”, về “sóng”, về “thuyền” của Xuân Quỳnh thấm đẫm chất triêt lý nhân gian của người xứ biển, quyện lẫn chất trữ tình đậm chất nhân văn của thời đại.

Chất thơ trữ tình của của Xuân Quỳnh đan quyện cái đắm đuối của cảm xúc trẻ trung vừa đồng thời là niềm lo âu hạnh phúc của người đã qua trải nghiệm, đem đến cho người đọc niềm cảm chân thành, sự lôi cuốn lãng mạn, nóng hổi tình đời, tình người.
20 năm trước, vụ tai nạn trên đường 5 làm chấn động làng văn nghệ VN, làm ngơ ngác những người yêu cặp vợ chồng tài hoa bạc mệnh. Khi nỗi đau dần nguôi, khi vượt qua sự bàng hoàng, bạn bè thân thiết của họ tự an ủi: tạo hóa đã dựng nên một huyền thoại về những con người tài năng.

Xuân Quỳnh và chồng là Lưu Quang Vũ đã đi hết những đường biên của một đời nghệ sĩ, cả hạnh phúc lẫn đắng cay. Xuân Quỳnh là một tài năng thơ có giọng điệu, gương mặt riêng. Trong cuộc sống đời thường, Xuân Quỳnh rất biết trân trọng hiện tại, biết cách tận hưởng hạnh phúc, sống say mê với thời của mình. Cuộc hôn nhân của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ là cái duyên tất yếu của hai tài năng. Chị đã có những giây phút thăng hoa trong tình yêu nhưng cũng có những lúc phải đóng vai của một người hạnh phúc. Phải chăng đó là một tình yêu, mà ngoài tạo hóa, không ai tạo ra nổi.

Ngày 27/8/1988, Xuân Quỳnh cùng chồng và con trai của họ - bé Quỳnh Thơ và gia đình họa sĩ Doãn Châu xuống làm việc với Đoàn kịch Hải Phòng. Trong chuyến đi này, họ tranh thủ nghỉ ngơi, tắm biển tại Đồ Sơn.

Chiều 29/8, trên chuyến xe trở về, khi vừa qua cầu Phú Lương (Hải Dương) thì chiếc xe chở họ gặp tai nạn. Linh cữu của Vũ, Quỳnh và bé Thơ sau đó được quàn ở Trụ sở Hội Văn nghệ, 51 Trần Hưng Đạo. Không ai có thể cầm được nước mắt khi chứng kiến 3 cỗ quan tài đặt song song với nhau, 2 cái lớn, 1 cái bé - bi kịch ập đến quá khủng khiếp và đường đột. Cùng với sự mất mát này, giới văn nghệ lúc đó còn rất hoang mang trước những tin đồn về cái chết của họ. Quả thực, làng văn đã có những ngày ảm đạm.


http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/A0/5F/86/aquynh.jpga.jpg (http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/A0/5F/86/aquynh.jpga.jpg)
Chân dung nhà thơ Xuân Quỳnh

Nguồn: Internet

LeNgocLinh
23-03-09, 12:15 PM
Lưu Quang Vũ-Xuân Quỳnh: "Tay trong tay tôi đã bên người"

Số phận nghiệt ngã đã không cho Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh kịp sống hết những năm tháng ngắn ngủi của đời mình. Anh chị mất đi vào lúc sức sáng tạo dồi dào, tài năng đang độ chín.


http://www.thegioiphunu-pnvn.com.vn/admin/RTE/Images/2982008/Kyniem.jpg (http://www.thegioiphunu-pnvn.com.vn/admin/RTE/Images/2982008/Kyniem.jpg)

Sự ra đi đột ngột của hai người cùng con trai Lưu Quỳnh Thơ đã gây một chấn động mạnh, đau đớn, xót xa, nhập nhòa màu hư vô của ám ảnh định mệnh.

Cuộc đời, sự nghiệp và tình yêu của hai người đã trở thành một “hiện tượng” trong giới văn nghệ, được bạn bè, đồng nghiệp, những người hâm mộ thơ ca và sân khấu rất quan tâm.

Trước khi có nhau, Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ đã trải qua rất nhiều gian truân, lận đận. Hai người quen biết nhau đã từ lâu. Anh chị ở cùng trong một khu nhà tập thể dành cho văn nghệ sĩ.

Họ là những người bạn thơ cùng thế hệ. Cả hai cùng có nỗi bất hạnh của gia đình đổ vỡ, cùng đã từng trải qua những cuộc tình không may mắn.

Năm 1973, họ đến với nhau. Đó là thời điểm khó khăn, lận đận nhất của cả hai người. Họ rời gia đình cũ ra đi với hai bàn tay trắng. Cả hai đều mang trong lòng những nỗi đau, những cuộc khủng hoảng lớn trong tâm hồn.

Dẫu vậy, anh chị vẫn quyết tâm sống với nhau, vẫn hết lòng và tin tưởng vào tình yêu của mình. Lưu Quang Vũ viết thư báo tin cho người em trai thứ hai đang học ở Liên Xô:

“Anh đã quyết định lấy chị Xuân Quỳnh. Chị Quỳnh là người tốt và hiểu anh. Mong và tin rằng sẽ đem lại hạnh phúc cho nhau và sẽ làm được nhiều việc có ích cho đời…”.

Quả đúng như vậy. Những năm chung sống, anh chị đã có ảnh hưởng rất lớn với nhau trong đời sống hàng ngày cũng như trong sáng tác. Hai người đã yêu nhau và nương tựa vào nhau để gây dựng tổ ấm và lao động cật lực.

Cuộc sống của họ tuy ngắn ngủi nhưng cả hai đều đã sống và làm việc hết mình, đã có những đóng góp không nhỏ cho đời sống văn học nước nhà.

Khối lượng kịch bản đồ sộ của Lưu Quang Vũ khiến nhiều người kinh ngạc. Trong khoảng thời gian gần 10 năm, anh đã sáng tác được hơn 50 vở kịch, được đánh giá là “nhà viết kịch xuất sắc của thời kỳ hiện đại”.

Kỳ hội diễn sân khấu năm 1985, Lưu Quang Vũ có 8 vở tham gia thì 6 vở được Huy chương vàng, 2 vở được Huy chương bạc. Anh được gọi là “Cây bút vàng của sân khấu”. Bên cạnh đó còn là thơ, là truyện ngắn và hàng trăm bài báo lớn nhỏ khác.

Khi đến với Lưu Quang Vũ dù đã là một nhà thơ nổi tiếng, được nhiều người yêu mến, Xuân Quỳnh vẫn sẵn sàng chấp nhận mọi sự hy sinh để vun đắp cho sự nghiệp của chồng:

Anh thân yêu, người vĩ đại của em
Anh là mặt trời em chỉ là hạt muối
Một chút mặn giữa đại dương vời vợi.

Chị đã nhận ra tài năng của anh không phải vào lúc chói sáng mà là lúc đang khó khăn nhất. Nhận ra vẻ đẹp của tâm hồn anh vào lúc đang có nhiều đổ vỡ nhất. Chỉ có sự thông minh, sắc sảo và một tình yêu rộng lớn mới có thể hiểu và làm được như thế.

Anh đã viết về chị:

Dù sao cuộc đời đã giành em lại cho anh
Điều mong ước đầu tiên, điều ở lại sau cùng
Chúng ta đã đi bên nhau trên mặt đất
Dẫu chỉ riêng điều đó là có thật
Đủ cho anh mãi mãi biết ơn đời.

Cuộc sống chung với Xuân Quỳnh đã cho Lưu Quang Vũ một nguồn năng lượng mới. Anh vừa có trong tay một tình yêu lý tưởng, lại vừa có một hạnh phúc đời thường:

Khi tàu đông anh lỡ chuyến đi dài
Chỉ một người ở lại với anh thôi
Lúc anh vắng người ấy thường thức đợi
Khi anh khổ chỉ riêng người ấy tới
Anh yên lòng bên lửa ấm yêu thương

Khi cằn cỗi thấy tháng ngày mệt mỏi
Em là sớm mai là tuổi trẻ của anh
Khi những điều giả dối vây quanh
Bàn tay ấy chở che và gìn giữ

Biết ơn em, em từ miền gió cát
Về với anh bông cúc nhỏ hoa vàng.

Xuân Quỳnh cũng làm việc với năng xuất không kém. Các tập thơ của chị nối nhau ra đời: Tự hát, Lời ru trên mặt đất, Sân ga chiều em đi, Hoa cỏ may... và hàng loạt tập thơ, truyện dành cho thiếu nhi.

Tôi chưa thấy một người phụ nữ nào lại hội đủ những yếu tố đang quý như chị: xinh đẹp, tài năng, thông minh, yêu đến quên cả bản thân mình. Ở con người chị mọi thứ tình cảm đều được đẩy đến tận cùng. Trong một bức thư gửi Lưu Quang Vũ khi Xuân Quỳnh đang đi Liên Xô có đoạn:

“Anh bận nhiều vất vả. Em nghĩ mà thương anh lắm. Cả đời em, em chỉ muốn cố gắng sao cho anh đỡ nhọc nhằn. Lắm lúc em thấy em không xứng đáng với anh không phải về tình yêu mà về trí tuệ.

Em cảm thấy em già rồi, già về thể chất đã đành nhưng lại còn già về sự yên phận của người đàn bà, về những sự nhỏ nhen tầm thường của đời sống…

Tất cả trong anh là cái gì đó đang vươn lên, đang nổi dậy.

Tất cả trong anh là sự bắt đầu mà con đường của anh thì còn xa tít tắp.

Con người anh như cây đàn, vừa tiếp nhận những luồng gió của cuộc sống vừa trả lại cho cuộc sống biết bao nhiêu âm thanh. Em, em cảm thấy em khô cằn và bất lực.

Em buồn lắm. Em thành thật nói với anh điều đó. Em vẫn cảm thấy hết. Vậy cho nên lúc nào em cũng thấy tình yêu của chúng ta mong manh. Em không thể hình dung không có anh em sẽ sống như thế nào…

Đôi khi em nghĩ quẩn là “có khi em phải bỏ anh đi để em khỏi phải mang nỗi tủi nhục là không xứng với anh”.

Nhưng em không có can đảm. Em yêu anh và em đã nhập cuộc đời em vào cuộc đời anh, bây giờ đối với em đó chỉ là một cuộc đời thôi, cắt đi làm sao nổi”.

Ai cũng nói thơ Xuân Quỳnh ngày một hay hơn. Có một nghịch lý trong thơ chị. Đó là càng hạnh phúc thì lại càng lo âu khắc khoải. Và càng lo âu khắc khoải thì lại càng đắm say, da diết.

Thơ của chị ngày càng ám ảnh, nung đốt lòng người:

Em lo âu trước xa tắp đường mình
Trái tim đập những điều không thể nói
Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn…

Năm cuối đời, Xuân Quỳnh bị đau tim nặng. Người đã từng nhiều lần đem trái tim mình ra để đánh đổi những câu thơ, bây giờ lại bị chính căn bệnh này hành hạ.

Một nhà thơ Nga đã từng viết: Ôi những người cực tốt – trái tim thường hay đau. Tháng 3-1988, Xuân Quỳnh được mời làm giám khảo cho Liên hoan phim ở Đà Nẵng, sau đó chị tranh thủ vào thăm chị gái Đông Mai ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Về Hà Nội, sức khoẻ chị giảm sút nhiều. Mỗi khi lên căn phòng riêng trên tầng ba, chị phải dừng lại để nghỉ và thở dốc. Mọi người trong gia đình giục mãi chị mới chịu đi khám bệnh. Bác sĩ yêu cầu phải nằm viện ngay. Đó là những ngày chị rất buồn và nặng nề.

Trái tim chị vừa có nỗi đau bệnh lý vừa có nỗi đau tâm lý. Nhìn chị thật khác lạ trong bộ quần áo bệnh nhân. Nụ cười tươi tắn thường che hết mọi buồn lo, giờ đây cũng trở nên nhợt nhạt.

Nỗi ám ảnh lớn nhất với chị lúc này là cảm thấy mình trở nên vô dụng. Cảm giác cô đơn đè nặng. Trong tâm trạng ấy, chị viết bài Thời gian trắng với những câu thơ thành thật đến nhói lòng:

Trái tim buồn sau lần áo mỏng
Từng đập vì anh vì những trang thơ
Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ
Chỉ có đập cho mình em đau đớn.

Trước đây, chúng ta đã từng biết màu thời gian tím ngắt trong thơ Đoàn Phú Tứ, và bây giờ lại biết đến thời gian trắng buốt lạnh trong thơ Xuân Quỳnh.

Nhìn gương mặt tái xanh với nhịp thở nặng nề, đôi mắt đen ngấn nước, tôi cảm thấy trạng thái quá sức mà con tim chị đang phải gánh chịu. Nó luôn phải chới với vươn về cái đích rất khó nắm bắt, phải vật lộn với cuộc sống, với số phận, với tình yêu hạnh phúc.

Người phụ nữ nhạy cảm và thông minh như chị luôn ý thức rõ những gì sẽ đến. Chị khắc khoải và đau buồn trong sự cảm nhận về những linh cảm mơ hồ nào đó. Không gian, thời gian trong bệnh viện như một cõi lưu đày, cắt đứt chị với thế giới bên ngoài, với những gì thân thuộc nhất của đời mình:

Quá khứ em không chỉ ngày xưa
Mà ngay cả hôm nay thành quá khứ
Quá khứ của em ngoài cánh cửa
Gương mặt anh gương mặt các con yêu…
Muốn gánh đỡ cho em phần mệt nhọc
Tới thăm em rồi anh lại ra đi
Đôi mắt lo âu, lời âu yếm sẻ chia
Lúc anh đến anh đi thành quá khứ.

Thời gian này, Lưu Quang Vũ cực kỳ bận rộn. Một mình anh gánh trên vai kịch mục của hàng chục đoàn nghệ thuật trong cả nước. Anh tất bật vào Nam ra Bắc, lại cộng thêm nỗi lo về sức khoẻ của vợ.

Mỗi khi phải đi xa Hà Nội, anh lại nhắn tôi về ở nhà để được yên tâm hơn. Anh nhờ bạn bè tìm bác sĩ giỏi, kiếm những loại thuốc tốt nhất để chữa bệnh cho vợ.

Bài thơ cuối cùng của anh được viết trong cuốn sổ công tác ghi chép dày đặc những công việc. Bài thơ có đầu đề rất giản dị:

Thư viết cho Quỳnh trên máy bay. Anh đã gửi vào đấy biết bao nỗi niềm, sự cảm thông chia sẻ, tình yêu thương, ân nghĩa sâu nặng và cả những lời “tự thú” thật chân thành:

Có phải vì 15 năm yêu anh
Trái tim em đã mệt?
Cô gái bướng bỉnh
Cô gái hay cười ngày xưa
Mẹ của các con anh
Một tháng nay nằm viện
Thương trái tim nhiều vất vả lo buồn
Trái tim lỡ yêu người phiêu bạt
Luôn mắc nợ những chuyến đi,
những giấc mơ điên rồ,
những ngọn lửa không có thật
Vẫn là gã trai nông nổi của em
Người chồng đoảng của em
15 mùa hè chói lọi, 15 mùa đông dài
Người yêu ơi
Có nhịp tim nào buồn khổ vì anh?…
Vở kịch lớn, bài thơ hay nhất
Dành cho em, chưa kịp viết tặng em
Trái tim hãy vì anh mà khoẻ mạnh
Trái tim của mùa hè, tổ ấm chở che anh…

Mối tình của anh chị kéo dài được 15 năm. Họ đã cùng nhau ra đi trong một chuyến xe định mệnh. Dường như cả hai đều đã linh cảm về điều ấy. Xuân Quỳnh viết:

Tay trong tay tôi đã bên người
Tôi chẳng nói điều chi về vĩnh viễn.

Và Lưu Quang Vũ:

Phút cuối cùng tay vẫn ở trong tay
Ta đã có những ngày vui sướng nhất
Đã uống cả men nồng và rượu chát
Đã đi qua cùng tận của con đường
Sau vô biên dẫu chỉ có vô biên
Buồm đã tới và lúa đồng đã gặt.

Cũng kỳ lạ thay, trái tim của hai người sẽ không phải chịu cảnh cô đơn. Sau 15 năm gắn bó, bây giờ anh chị lại tiếp tục bên nhau, vĩnh viễn bên nhau cùng tình yêu bất tử của mình.


Bài viết của PGS.TS Lưu Khánh Thơ
Nguồn: An ninh Thế giới

LeNgocLinh
29-03-09, 23:35 PM
Yêu thương ngân thành tiếng hát

Đọc “Bầu trời trong quả trứng” của Xuân Quỳnh

Rabindranath Tagore với một “Mảnh trăng non” đã chạm vào cõi thơ một thế giới ấm áp tình yêu thương con trẻ:

“Con ơi, con ẩn trong lòng mẹ như ước vọng... Là con đầu lòng yêu dấu của trời, sinh đôi cùng ánh sáng ban mai, con đã trôi xuôi dòng đời thế giới và cuối cùng tấp vào lòng mẹ.

Khi ngắm gương mặt con, huyền nhiệm ngập tràn lòng mẹ. Con là của tất cả đã trở thành của mẹ.

Sợ mất con mẹ ôm chặt con vào ngực. Phép lạ nào đã bẫy được kho báu trần gian vào trong đôi tay mảnh mai này của mẹ?”

Với Xuân Quỳnh, những rung động ấy trú ngụ trong những lời tâm tình, những thầm thì bên cánh đồng ấu thơ với giấc mơ đau đáu về hạnh phúc. Những bài thơ Xuân Quỳnh viết tặng con là một phần thơ, một phần đời của chị. Giản dị như chính tình yêu thương chân thật có trong cuộc sống này, từng câu chữ là từng hướng vọng, tin yêu:

- Con yêu mẹ bằng ông trời
Rộng lắm không bao giờ hết
- Thế thì làm sao con biết
Là trời ở những đâu đâu
Trời rất rộng lại rất cao
Mẹ mong, con bao giờ tới.
(Con yêu mẹ)

Những “đối thoại” trong thơ và những “đối thoại” ngầm trong đời thực đã tạo nên một bức tranh thật đáng yêu. Lời con trẻ ngây thơ, trong sáng; tiếng lòng của mẹ cũng thánh thiện, cũng tràn ngập âm sắc của trẻ thơ. Bởi “thơ Xuân Quỳnh nói chính lời trẻ thơ, nghĩ cách trẻ thơ”. Chị đã hoá thân, nhập thân... tất cả trọn vẹn trong hai chữ yêu thương sâu sắc.

Chỉ trong “Bầu trời trong quả trứng”, người đọc đã bắt gặp rất nhiều những thi phẩm đề tặng con của nữ thi sĩ “hoa dọc chiến hào” với bỏng rát và cồn cào nỗi nhớ mảnh đất gió Lào cát trắng, với những khúc tự tình và đôi mắt thăm thẳm của một con người yêu để sống và sống để yêu thương. Cấu trúc bắt gặp nhiều trong thơ là đối thoại, là những hỏi - đáp thú vị về cuộc sống, mà trong đó, tình yêu ẩn náu như một thiên sứ ngộ nghĩnh, đến bằng nụ cười ấu thơ và mang theo vào thế giới của độc giả những dư vị ngọt ngào:

- Má ơi ai sinh cá
Ai làm ra cái kem
Đêm sao lại màu đen
Ban ngày sao màu trắng?
- Ban ngày làm bằng nắng
Màu xanh làm bằng cây
Quả ớt làm bằng cay
Tiếng ồn sinh tàu điện...
(Cắt nghĩa)

Bỏ qua cách cắt nghĩa mang những “triết lí hồn nhiên của sự sống, thứ triết lí mà ở mỗi lứa tuổi có thể hấp thụ một cách riêng” là lấp lánh sắc màu của sự đồng điệu hai thế giới: thế giới trẻ thơ - thế giới của những con người đã bước qua thời vụng dại. Cũng vẫn những câu trả lời bình dị như được lẩy ra từ những cung bậc dịu dàng trong cuộc đời này, “Mẹ và con” mang đến một cảm nhận ấp áp về tình mẹ:

- Mẹ ơi bông hoa kia
Là của ai hở mẹ?
Cái màu xanh trên cửa
Kia nữa là của ai?
- Của con đấy con ơi
Đều của con tất cả...
... Là của con cả đó
Cả mẹ cũng của con.

Để rồi, sau cái “tất cả” ấy là phép suy luận của một thứ logic - tình cảm hết sức bất ngờ:
Con ôm mẹ con hôn
- Của con sao nhiều thế?
- Ừ của con nhiều quá
Nhưng mẹ lại nhiều hơn
Vì tất cả của con
Mà con là của mẹ.

Với Xuân Quỳnh và trong thơ Xuân Quỳnh, con là kết tinh của những gì dấu yêu đẹp đẽ nhất - cái mà Tagore âu yếm gọi là “kho báu trần gian”. “Con làm bằng yêu thương - Của cha và của mẹ - Của bà và của ông - Của má nữa, biết không - Con làm bằng tất cả”. Thứ ánh sáng huyền nhiệm, diệu kì của tình mẹ đã thắp lửa thương yêu. Chính từ đó, những băn khoăn của con trẻ được lí giải. Cũng chính từ đó, những khát khao, ước vọng của trẻ được chắp cánh. Và, từ đó, hơn mọi định nghĩa và hơn mọi ngôn từ, tình yêu thăng hoa.

Xuân Quỳnh đã đi qua đời thơ ngắn ngủi của mình bằng những rung động rất nhẹ, rất khẽ nhưng cũng chất chứa những va đập của suy tư, của con sóng muốn kiếm tìm tình yêu đích thực trong bão giông, trong cồn cào mong nhớ. Đôi khi đi trên hè phố, lặng nghe “tiếng con đạp thầm” trong bụng mẹ, chợt nghĩ đến bàn chân và một con đường xa tít tắp. Rồi thấy lòng mình ngân lên khúc nhạc. Đôi khi nghe con bi bô kể chuyện mà tha thiết một căn hầm hẹp xưa xa với đứa trẻ - là con, cánh tay còn bé bỏng “bám cổ mẹ suốt đêm” nhưng đã biết “ghét thằng Mĩ” và biết ước mơ “Bao giờ con lớn lên - Con làm anh bộ đội”. Đôi khi ru lòng mình nhìn lại tuổi thơ con, với bè bạn của con: mắt tre trong hầm, làn gió sớm, ông trăng rằm, sông dài, biển rộng, ao tròn... Nhưng ghi lại “tuổi thơ của con” là để:

Ngày mai tròn vẹn ước mơ
Yêu thương thêm chuyện ngày xưa nước mình.

Xuân Quỳnh là thế. Thơ Xuân Quỳnh “cứ như là nước ngọt tuôn ra từ một mạch ngầm trong trẻo...” (Vân Thanh). Dịu dàng vỗ về con bằng thơ. Lặng lẽ chụp lại hình ảnh của con cũng bằng thơ. Xuân Quỳnh đến với mảng văn học viết cho thiếu nhi bằng một bầu trời lung linh trong quả trứng, bằng một Chờ trăng, một Mùa đông nắng ở đâu?... Và quen thuộc hơn với các em học sinh tiểu học là Truyện cổ tích về loài người, là Tuổi ngựa. Êm đềm, sâu lắng, những bài thơ viết cho con không chỉ dành riêng cho một ai, nó là của tất cả trẻ thơ, nó là của tất cả những tâm hồn biết yêu thương con trẻ.

(Quỳnh Nga)